Một số vướng mắc trong việc đình chỉ thi hành án theo luật Thi hành án dân sự

Ths. Nguyễn Thị Phíp

Giảng viên khoa Đào tạo Chấp hành viên và các chức danh tư pháp khác

Vụ việc


       Tại Bản án dân sự số 17/LHST ngày 20/6/2008 của Tòa án nhân dân huyện A. tỉnh N. đã tuyên “… anh Vũ Văn Hải phải giao cháu Vũ Hoài Nam sinh ngày 20/2/2005 cho chị Nguyễn Thị Lan và anh Hải phải cấp dưỡng nuôi cháu Vũ Hoài Nam cho chị Nguyễn Thị Lan mỗi tháng là 600.000 đồng kể từ tháng 7 năm 2008 cho đến khi cháu Vũ Hoài Nam đủ 18 tuổi…” Ngày 10/8/2008, chị Nguyễn Thị Lan có đơn yêu cầu thi hành án về khoản anh Vũ Văn Hải phải cấp dưỡng nuôi cháu Vũ Hoài Nam sinh ngày 20/2/2005 cho chị mỗi tháng là 600.000 đồng kể từ tháng 7/2008 đến khi cháu Nam đủ 18 tuổi. Ngày    12/8/2008, Chi cục thi hành án dân sự huyện A. đã ra quyết định thi hành án số 250/QĐTHAT ĐYC theo đúng nội dung yêu cầu của chị Lan và giao cho Chấp hành viên P. tổ chức thi hành án. Chấp hành viên P. đã tổ chức thi hành án theo đúng quy định của pháp luật về thi hành án dân sự nhưng chỉ thu được 3.000.000 đồng (tướng ứng với 05 tháng cấp dưỡng) và đã trả cho chị Nguyễn Thị Lan. Xét thấy điều kiện thi hành án của anh Hải rất khó khăn nên ngày 05/8/2009, chị Nguyễn Thị Lan đã có đơn đề nghị cơ quan thi hành án dân sự huyện A. không tiếp tục thi hành án khoản cấp dưỡng nuôi cháu Vũ Hoài Nam.

 Để giải quyết thi hành án theo đơn đề nghị của chị Nguyễn Thị Lan có 03 quan điểm như sau:

Quan điểm thứ nhất: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 50 Luật Thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án ra quyết định đình chỉ thi hành án toàn bộ nghĩa vụ cấp dưỡng nói trên đối với anh Hải, tức là đình chỉ quyết định thi hành án số 250/QĐTHAT ĐYC ngày 12/8/2008 và trong trường hợp chị Lan phát hiện anh Hải có điều kiện thi hành án thì chị Lan cũng không có quyền yêu cầu thi hành án trở lại.
 

Quan điểm thứ hai: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 50 Luật Thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án ra quyết định đình chỉ thi hành án về nghĩa vụ cấp dưỡng đến hạn nhưng chưa thi hành được (từ tháng 12/2008 đến tháng 7/2009) vì anh Nam đã thi hành án được tháng 7,8,9,10,11 năm 2008. Đối với nghĩa vụ cấp dưỡng từ tháng 9/2009 đến khi cháu Nam đủ mười tám tuổi thì hướng dẫn chị Lan có đơn rút đơn yêu cầu thi hành án và cơ quan thi hành án căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 37 Luật THADS để thu hồi quyết định thi hành án số 250 đối với nghĩa vụ cấp dưỡng của anh Hải từ tháng 9/2009 đến khi cháu Nam đủ mười tám tuổi và chị Lan có quyền yêu cầu thi hành án theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đối với nghĩa vụ cấp dưỡng đã ra quyết định thu hồi còn thời hiệu khi phát hiện anh Hải có điều kiện thi hành án.

 Quan điểm thứ ba: Cơ quan thi hành án không thể ra quyết định đình chỉ thi hành án được vì việc đình chỉ này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích của người thứ ba là cháu Vũ Hoài Nam theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 50 Luật Thi hành án dân sự.

Lời bình:  Theo tình huống trên chúng ta phải xác định khoản cấp dưỡng nuôi cháu       Vũ Hoài Nam thuộc trường hợp thi hành án theo đơn yêu cầu được quy định tại       khoản 2 Điều 36 Luật Thi hành án dân sự. Trong bản án này người được thi hành án là chị Nguyễn Thị Lan, người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Nam. Nhưng do đặc thù trong bản án, quyết định về hôn nhân gia đình ở chỗ người được hưởng quyền lợi theo bản án, quyết định này là chị Lan và cháu Nam, nhưng do cháu Nam chưa đủ năng lực hành vi dân sự nên quyền được hưởng đó sẽ được thông qua người trực tiếp nuôi dưỡng cháu đó là chị Lan và chị Lan có quyền làm đơn yêu cầu thi hành án hoặc không làm đơn yêu cầu anh Vũ Văn Hải trả chị tiền cấp dưỡng nuôi cháu Nam khi chị thấy mình có đủ điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Nam Theo quy định tại Khoản 2 Điều 36 Luật THADS cơ quan thi hành án dân sự chỉ ra quyết định thi hành án và giao cho Chấp  hành viên tổ chức thi hành án khoản cấp dưỡng nuôi cháu Nam khi chị Lan có đơn yêu cầu thi hành án hợp lệ. Trường hợp chị Lan không làm đơn yêu cầu thi hành án thì khoản cấp dưỡng này không được tổ chức thi hành. Vấn đề chị Lan không yêu cầu thi hành án khoản cấp dưỡng (trường hợp này xảy ra trên thực tế rất nhiều) vì xét thấy mình đủ điều kiện nuôi cháu Nam hoặc đã yêu cầu nay xét thấy điều kiện thi hành án của anh Hải không có mà chị lại có điều kiện thì chị Lan có quyền làm đơn yêu cầu không tiếp tục thi hành án khoản cấp dưỡng nuôi cháu Nam đối với nghĩa vụ cấp dưỡng đến hạn mà anh Hải chưa thi hành cho chị thì việc làm này của chị Lan không thể coi là ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp người thứ ba (cháu Vũ Hoài Nam). Như vậy, việc đình chỉ thi hành án khoản cấp dưỡng đã đến hạn theo đơn yêu cầu của chị Lan là phù hợp với quy định tại điểm c khoản 1 Điều 50 Luật thi hành án dân sự và phù hợp với tình hình thực tiễn đó là chị Lan hiện có đủ điều kiện nuôi cháu Nam, còn anh Hải thì chưa có điều kiện thi hành án nên chị Lan có quyền từ chối việc cấp dưỡng của anh Hải nhằm tạo điều kiện cho anh Hải ổn định cuộc sống.

Khoản cấp dưỡng nuôi con là loại việc thi hành án theo định kỳ. Theo bản án trên, mỗi kỳ sẽ là 01 tháng. Như vậy, theo Điều 30 Luật thi hàn án dân sự quy định về thời hiệu yêu cầu thi hành án “Đối với bản án, quyết định thi hành theo định kỳ thì thời hạn 05 năm được áp dụng cho từng định kỳ, kể từ ngày nghĩa vụ đến hạn” theo đó mỗi tháng cấp dưỡng sẽ có thời hiệu yêu cầu thi hành án là 05 năm kể từ tháng đó. Chẳng hạn, trong bản án trên khoản cấp dưỡng nuôi cháu Nam của tháng 7/2008, chị Lan có quyền làm đơn yêu cầu thi hành án trong thời hạn 05 năm kể từ tháng 7/2008. Như vậy theo nguyên tắc       này mỗi tháng chị Lan phải làm đơn yêu cầu thi hành án một lần để cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án. Nhưng trên thực tế để giảm tải việc ra quyết định thi hành án hàng tháng thì các cơ quan thi hành án dân sự khi có đơn yêu cầu khoản cấp dưỡng thường ra chung một quyết định với nội dung trong phần quyết định như sau “anh Vũ Văn Hải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Vũ Hoài Nam sinh ngày 20/5/2005 cho chị Nguyễn Thị Lan mỗi tháng 600.000 đồng kể từ tháng 7/2008 đến khi cháu Nam đủ 18 tuổi” và Chấp hành viên sẽ tổ chức thi hành án cho đến khi cháu Nam đủ 18 tuổi mới kết thúc trừ trường hợp các đương sự thỏa thuận thi hành án một lần tổng số tiền cấp dưỡng đó. Chính vì vậy, khi có đơn yêu cầu không tiếp tục thi hành án nữa có quan điểm đã cho      rằng phải đình chỉ việc thi hành án đối với các khoản chưa thi hành án được cho đến khi cháu Nam đủ 18 tuổi và chị Lan không có quyền yêu cầu thi hành án tiếp theo.

Tác giả cho rằng việc đình chỉ theo đơn yêu cầu không tiếp tục thi hành án của chị Lan là đúng nhưng chỉ đình chỉ những nghĩa vụ chưa thi hành án được đến thời điểm có đơn yêu cầu không tiếp tục thi hành án nữa, vì thực tế thi hành án cấp dưỡng là thi hành án theo định kỳ thì cơ quan thi hành án phải ra quyết định thi hành án theo hàng tháng và chỉ tổ chức thi hành với số tiền đã đến hạn của hàng tháng nếu không có thỏa thuận khác. Vì vậy, việc ra quyết định đình chỉ các khoản đã đến hạn mới đúng theo quy định của pháp luật, cơ quan thi hành án không thể ra quyết định đình chỉ đối với những khoản chưa      đến hạn thanh toán như quan điểm thứ nhất.

Như vậy, quan điểm của tác giả không đồng ý với quan điểm thứ nhất và quan điểm thứ ba mà chỉ đồng ý với quan điểm thứ hai. Với phân tích lập luận như trên tác giả cho rằng quan điểm thứ hai là quan điểm đúng đắn nhất và phù  hợp với các quy định của pháp luật về thi hành án dân sự đó là sự phù hợp với điểm c khoản 1 Điều 50 và Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. 


Với sự kiện trên khi nhận được đơn yêu cầu không tiếp tục thi hành án của chị Lan, Chấp hành viên cần phải giải quyết như sau: phải gặp gỡ chị Lan xem xét tâm tư, nguyện vọng, lý do của việc chị làm đơn không tiếp tục yêu cầu thi hành án nữa và giải thích quyền, nghĩa vụ của chị Lan trong việc chị không yêu cầu tiếp tục thi hành án nữa. Sau đó Chấp hành viên đề xuất với Chi cục trưởng chi cục thi hành án huyện A. ra quyết định đình chỉ thi hành án về khoản cấp dưỡng nuôi cháu Vũ Hoài Nam đối với anh Vũ Văn Hải từ tháng 12/2008 đến tháng 8/2009 (ngày chị Lan có đơn yêu cầu không tiếp tục thi hành án nữa). Còn nghĩa vụ cấp dưỡng tiếp theo đối với anh Hải, chị Lan có quyền làm đơn yêu cầu thi hành án khi chị Lan cung cấp được các thông tin về tài sản của anh Hải trong thời hiệu yêu cầu thi hành án quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự và chị Lan hoàn toàn có quyền quyết định có yêu cầu thi hành án hay không yêu cầu thi hành án về các khoản tiền cấp dưỡng đó. 


Sự kiện

Ngày 25/7/2009, chị Lan có đơn yêu cầu thi hành án về việc anh Hải phải giao cháu Vũ Hoài Nam cho chị nuôi dưỡng, chăm sóc. Chi cục thi hành án huyện A, tỉnh N. đã nhận đơn yêu cầu thi hành án của chị Lan và ra quyết định thi hành án theo đúng quy định của pháp luật và giao cho Chấp hành viên K. tiếp tục tổ chức thi hành án. Hết thời gian tự nguyện thi hành án anh Hải cố tình không giao cháu Vũ Hoài Nam cho chị Lan. Chấp  hành viên K. đã ra quyết định cưỡng chế buộc anh Vũ Văn Hải phải giao cháu Vũ Hoài Nam cho chị Nguyễn Thị Lan. Công tác cưỡng chế đang được họp bàn giữa các ngành trong huyện thì được biết cháu Vũ Hoài Nam bị sốt cao và đã chết vào ngày 30/11/2009. Căn cứ vào Điểm b Khoản 1 Điều 50 Luật Thi hành án dân sự Chi cục thi hành án dân sự huyện A. đã ra quyết định đình chỉ thi hành án về việc anh Vũ Văn Hải phải giao cháu Vũ Hoài Nam cho chị Nguyễn Thị Lan.

Lời bình 


 Điểm b khoản 1 Điều 50 Luật Thi hành án dân sự quy định: 


“1. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định đình chỉ thi hành án trong các trường hợp sau đây:

            a)…..

            b) Người được thi hành án chết mà theo quy định của pháp luật quyền và lợi ích của người đó theo bản án, quyết định không được chuyển giao cho người thừa kế hoặc không được thừa kế”.


            Theo vụ việc trên, khi cháu Vũ Hoài Nam chết thì đối tượng thi hành án thực tế đã không còn tồn tại theo đó vụ việc chắc chắn sẽ không thể tiếp tục thi hành được. Chính vì vậy, Chi cục thi hành án dân sự huyện A. đã ra quyết định đình chỉ thi hành án với lý do là người được thi hành án (cháu Vũ Hoài Nam) chết mà theo quy định của pháp luật quyền và lợi ích của người đó theo bản án, quyết định không được chuyển giao cho người thừa kế hoặc không có người thừa kế. Vấn đề đặt ra là Chi cục Thi hành án dân sự huyện A. áp dụng điểm b khoản 1 Điều 50 để ra quyết định đình chỉ thi hành án có đúng căn cứ pháp luật không? 

Theo quy định tại Điều 3 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án là người được hưởng quyền, lợi ích theo bản án, quyết định. Vì vậy, trong bản án ly hôn trên, người được thi hành án là chị Nguyễn Thị Lan vì chị là người được hưởng quyền được nuôi con chứ không phải cháu Vũ Hoài Nam, nhưng Chi Cục Thi hành án huyện A. đã áp dụng điểm b khoản 1 Điều 50 để ra quyết định đình chỉ thi hành án là chưa chính xác.

 

Tác giả đồng ý với việc xử lý của Chi cục thi hành án dân sự huyện A là phải ra       quyết định đình chỉ thi hành án khi cháu Vũ Hoài Nam chết để kết thúc việc thi hành án nhưng tác giả không đồng ý việc áp dụng điểm b khoản 1 điều 50 Luật Thi hành án dân sự của Chi cục thi hành án huyện A.. Trong vụ việc việc này để ra quyết định đình chỉ thi hành án về khoản anh Vũ Văn Hải phải giao cháu Vũ Hoài Nam cho chị Nguyễn Thị Lan theo quy định tại Điều 50 Luật Thi  án dân sự thì hiện pháp luật về thi hành án dân sự chưa có quy định nào quy định đình chỉ thi hành án khi đối tượng thi hành án không còn trên thực tế, vì vậy để đình chỉ được việc thi hành án trên theo các quy định hiện hành thì Chấp hành viên phải là người hiểu pháp luật và biết vận dụng các quy định hiện hành      một cách linh hoạt nhất, cụ thể đối với trường hợp này để có căn cứ ra quyết định đình chỉ thi hành án, Chấp hành viên cần làm như sau:

Thứ nhất, khi cháu Vũ Hoài Nam đã chết, Chấp hành viên cần phải làm việc với chị Nguyễn Thị Lan chia buồn cùng chị Lan và gia đình đồng thời giải thích cho chị Lan các quy định của pháp luật về việc đình chỉ việc thi hành án đối với anh Vũ Văn Hải phải giao cháu Vũ Hoài Nam cho chị chăm sóc, nuôi dưỡng theo bản án đã tuyên. Hiện nay pháp luật chưa có quy định đình chỉ việc giao con khi đứa con bị chết mà chỉ có một cơ sở duy nhất là chị phải có văn bản yêu cầu cơ quan thi hành án không tiếp tục thi hành án nữa theo quy tại điểm c khoản 1 điều 50 Luật thi hành án dân sự.

Thứ hai, lập biên bản buổi làm việc (theo mẫu biên bản giải quyết thi hành án) với chị Lan, trong đó phải có nội dung “ … vì cháu Vũ Hoài Nam đã chết nên tôi không yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự huyện A tiếp tục thi hành án nữa….”. Biên bản có chữ ký của chị Lan và Chấp hành viên

 

Căn cứ vào biên bản trên Chấp hành viên đề xuất với Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự huyện A. tỉnh N. ra quyết định đình chỉ thi hành án là  hoàn toàn có cơ sở pháp luật theo điểm c khoản 1 Điều 50 Luật Thi hành án dân sự.

Kiến nghị

Qua vụ việc trên, để hoàn thiện các quy định về đình chỉ thi hành án dân sự, góp phần giảm công sức, thời gian của Chấp hành viên nói riêng của cơ quan thi hành án dân sự nói chung, pháp luật nên bổ sung vào điểm h khoản 1 Điều 50 Luật Thi hành án dân sự về trường hợp người chưa thành niên được giao theo bản án, quyết định đã chết thì cơ quan thi hành án ra quyết định đình chỉ thi hành án cụ thể điểm h khoản 1 Điều 50 Luật thi hành án dân sự quy định như sau: “Người chưa thành niên được giao nuôi dưỡng theo bản án, quyết định đã thành niên hoặc đã chết” tạo cơ sở pháp lý cho các cơ quan thi hành  án dân sự thực thi pháp luật một cách thuận lợi nhất và nhất định sẽ góp phần giảm án tồn động như hiện nay.

 


Ngày cập nhật 2014/12/22 Tác giả: nhadatphucankhang





Tag:
Hỗ trợ trực tuyến

0906812689

0929295979

0906724869

Hình Ảnh Dự Án

Liên Kết Website

BACK TO TOP